SAPIENS - LƯỢC SỬ LOÀI NGƯỜI

  • Khi đứng thẳng đôi bàn tay được rảnh rỗi để làm những việc khác như ném đá, ra hiệu. Đôi bàn tay càng làm được nhiều việc hơn thì người chủ càng thành công hơn. Nên áp lực tiến hóa đã khiến các dây thần kinh, cơ bắp được tinh chỉnh tập trung càng nhiều vào đôi bàn tay (T19)
  • Dáng đi thẳng làm cho hông hẹp lại, chèn ép đường sinh nên sinh đẻ trở lên khó khăn, tử vong khi sinh tăng lên. Sinh non thì đầu nhỏ hơn nên dễ sinh hơn. Vậy tiến hóa ưu tiên cho sinh non. Do đó con người được sinh ra trong khi nhiều cơ quan quan trọng chưa phát triển. Con hươu có thể đi lại vài giờ sau sinh, con mèo có thể tự săn mồi sau vài tuần. Còn một đứa trẻ sơ sinh hoàn toàn phụ thuộc cha mẹ nhiều năm sau đó. Thức tế này cúng đóng góp cho các năng lực tính xã hội kỳ diệu của con người. Một người mẹ đơn thân không thể tự nuôi sống mình và đứa trẻ đên cần đên sự hộ trợ từ các thành viên khác trong loài . Đo đó tiến hóa lại ủng hộ sự hình thành các mối quan hệ xã hội. Ngoài ra các bào thai động vật có vú khác gần như hoàn chỉnh khi sinh ra nên không thể giáo dục gì. Ngược lại do phát triển chưa đầy đủ nên chúng ta có thể giáo dục con cái chúng ta. (T20)
  • Mặc dù tiền xây dựng nên sự tin tưởng chung giữa những con người xa lạ, giúp họ có thể cùng nhau hợp tác, nhưng sự tin tưởng này không được đặt ở con người, cộng đồng hay những giá trị thiêng liêng, mà vào chính bản thân tiền và những hệ thống vô cảm đứng sau nó. Chúng ta không tin tưởng người lạ cũng  như tay hàng xóm sát vách, mà tin vào những đồng tìn họ đang nắm vững. Khi tiên làm sụp đổ những con đe bảo vệ của cộng đồng, tôn giáo, và quốc gia, thế giới có nguy cơ trở thành một thị trường khổng lồ, vô cảm (T234)
  • Cách mạng Nông nghiệp dường như đi kèm với cách mạng tôn giáo. Người săn bắt hái lượm săn tìm những loài động thực vật hoang dã vốn được xem là có địa vị bình đẳng với Homo sapiens. Việc con người săn cừu không làm loài cừu trở nên thấp kém hơn anh ta, như việc con hổ săn bắt con người không làm con người thấp kém hơn loài hổ. Ngược lại nông dân sở hữu, điều kiển thực động vật, hiếm khi hạ mình giao tiếp với những gì thuốc sở hữu của họ. Do đó biến cây trồng, vật nuôi từ vị thế bình đẳng trở thành vật sở hữu. Những người nông dẫn vẫn không thể kiểm soát được mùa màng có bội thu không, bầy cừu có khỏe mạnh không, con cừu cái có được thụ thai hay không. Khi đó các vị thần xuất hiện để giải quyết các vấn đề này. Các vị thần sinh sản, mặt trời, y học có vai trò trung tâm khi thực vật, động vật mất đi khẳ nang nói chuyện đó là làm cầu nối giữa con người và các loài động thực vật câm lặng. (T 265-366)
  • Khi các thần hiển linh, tác động lớn nhất của các ngài không phải bầy cừu hay ma quỷ mà chính là vị thế cảu homo sapiens. Chẳng hạn một trận lũ lụt quét sạch một khu vực, hạn hán dài ngày thay đổi cả hệ sinh thái có thể là kết quả của một số kẻ homo sapiens ngu ngốc đã chọc giận thần linh, hay do cống tế chưa đủ làm phật ý các ngài. Ngược lại khi mùa màng bội thu thì là kết quả của việc cầu nguyện thành tâm. Đa thần giáo qua đó tôn vinh không chỉ các vị thần mà của cả nhân loại. Khi đó ác vật khác trở thành thừa thãi hoặc chỉ là một trang trí câm lậng trong vở kịch vĩ đại về mối quan hệ con người với các thần (T267)
  • Khám phá sâu sắc nhất của Gautama là khi tâm trải nghiệm bất cứ điều gì, nó thường phản ứng với tham ái, mà tham ái luôn kéo theo sự bất mãn. Khi tâm trải nghiệm một cái gì đó khó chịu, nó khao khát thoát khỏi cái day dứt và bực dọc. Khi tâm trải nghiệm một cái gì đó dễ chịu, nó khao khát rằng niềm vui sẽ duy trì và tăng thêm. Do đó, tâm luôn không hài lòng và bồn chồn, chúng ta không bào giờ bằng lòng và đó là nguồn gôc của khổ đau dù ta có già trẻ, giàu nghèo ra sao. Gautama thấy có một cách đê thoát khỏi cái vòng luẩn quẩn của khổ đau. Nếu khi tâm trải nghiệm một cái gì đó dễ chịu hay khó chịu, tâm chỉ đơn giản thấu hiểu sự vật như nó vốn vậy, thì sẽ không có đau khổ. Nếu bạn gặp nỗi buồn mà không mong nỗi buồn biến mất, bạn tiếp tục cảm thấy nỗi buồn mà nhưng bạn không đau khổ vì nó nưa. Nếu bạn từng trải qua niềm vui mà không muốn rằng niềm vui kéo dài và nhân lên nữa, bạn vẫn tiếp tục cảm thấy niềm vui mà không mất đi sự bình an trong tâm hồn.
          Phật giáo nói vơi mọi người rằng họ nên hướng tới mục tiêu tối hậu là giải thoát hoàn toàn khổ đau, thàu vì dừng lại ở những mục tiêu trong đời như thịnh vượng về kinh tế, quyền lực chính trị. Nhưng 99% phật tử không thể tới đươc niết bàn và thậm chí nếu họ hy vong làm được như vậy trong kiếp sau thì phần lớn kiếp này họ dành cuộc sống của mình để theo đuổi các thành tựu trần tục. Vì vậy học vẫn tiếp tục thờ cac vị thần

        Theo thời gian một vài tông phái Phật giáo phát triển một hệ thống như Phật và Bồ Tát. Đó là những người và không phải người đã đạt được niết bàn nhưng từ bỏ khả năng này vì lòng từ bi để cưu giúp vô số chúng sinh mắc kẹt trong vòng luân hồi đau khổ. Nhiều phật tử thờ các vị giác ngộ này yêu cầu họ giúp đỡ không chỉ trong việc đạt được niết bàn mà cả trong xử lý các vấn đề trần tục.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này